Giáo sư Nguyễn Văn Thuận tốt nghiệp Đại học Kobe vào năm 2002. Trong thời gian 2002-2007, ông làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Viện Công Nghệ Sinh học thuộc Viện RIKEN, Nhật Bản. Hiện ông là Chủ tịch Hiệp hội Công nghệ sinh học sinh sản châu Á.
Từ tháng 3/2007 đến nay, GS Nguyễn Văn Thuận giảng dạy tại Khoa Công nghệ sinh học động vật tại Đại học Kiến Quốc (Konkuk), Seoul, Hàn Quốc. Thời gian vừa qua ông đã có một bài viết được nhiều người quan tâm về việc ở lại hay về Việt Nam làm việc của những trí thức như ông.
Radio Australia đã có cuộc trao đổi với GS Nguyễn Văn Thuận chung quanh vấn đề này.
Radio Australia: GS nói có những lý do để ở lại Hàn Quốc, và có những lý do để trở về Việt Nam. Vậy lý do quan trọng nhất khi ông quay trở về Việt Nam là gì?
GS Nguyễn Văn Thuận: Như tôi đã nói trước đây, chính những tâm sự của các em sinh viên trường ĐH Konkuk (Hàn Quốc) trước chuyến thăm của Bộ Trưởng Bộ Khoa Học và Công Nghệ Nguyễn Quân trong cuối năm 2012 là lý do quan trọng nhất để tôi quyết định trở về quê hương làm việc.
Dù sao chúng tôi cũng là thế hệ đi trước của các em và phải có trách nhiệm tạo dựng nền tảng trong chuyên ngành của mình để các em có cơ hội phát triển học thuật trên quê hương mình như một số nhà khoa học Việt Nam đã làm trước đây cho thế hệ chúng tôi có thể phát triển như hôm nay.
RA: Trở về Việt Nam bây giờ là chấp nhận với những thử thách: Điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn lạc hậu, các yếu tố về con người, về hỗ trợ của chính phủ chưa thỏa đáng. Giáo sư có chuẩn bị cho mình trước những thách thức đó không?
GS NVT: Nếu chỉ nhìn trên bình diện chung thì đúng là điều kiện vật chất và sự hỗ trợ của chính phủ về nghiên cứu và học thuật tại Việt Nam vẫn còn rất thấp so với các nước đã phát triển. Tuy nhiên nếu nhìn kỹ hơn thì chúng ta vẫn thấy nhiều điểm sáng trong bức tranh không mấy sáng sủa về học thuật của nước nhà và ngày càng nhiều công bố quốc tế về học thuật đã xuất hiện từ những điểm sáng đó. Chính điều này làm cho tôi có nhiều niềm tin hơn trong quyết định trở về của mình.
Quyết định trở về nhà trong khi cha mẹ còn đang rất nghèo thì rất không nên nếu chỉ muốn đòi tiền cha mẹ cho sự phát triển của mình. Như chúng ta đã biết ở các nước phát triển thì đầu tư của nhà nước cho khoa học và phát triển chỉ khoảng 30%, phần còn lại 70% là doanh nghiệp tư nhân. Nếu khoa học mang lại lợi ích kinh tế thiết thực thì việc kiêu gọi 70% đầu tư từ doanh nghiêp tư nhân là không khó khăn lắm.
RA:Và ông đã có những động thái nào để kêu gọi 70% đầu tư từ doanh nghiệp?
GS NVT: Để chuẩn bị cho sự trở về tôi đã hợp tác cùng IVF-Japan, IVF Seoul cùng Đại học Tân Tạo để phát triển một trung tâm điều trị vô sinh đẳng cấp quốc tế và tôi cùng các chuyên gia IVF Nhật Bản tin tưởng sẽ thành công tại Việt Nam. Đây sẽ là bước chuẩn bị đầu tiên, một khi nước nhà thật sự khó khăn thì tôi vẫn có một điều kiện tối thiểu để tiếp tục những nghiên cứu của mình. Qua làm việc với PGS.TS. Hồ Thanh Phong, Hiệu trưởng trường Đại học Quốc Tế, Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, GS. Võ Tòng Xuân, hiệu trưởng Đại học Tân Tạo, các thế hệ đàn anh của chúng tôi rất tâm huyết và hứa sẽ tạo mọi điều kiện để tôi được cống hiến trong chương trình đào tạo công nghệ sinh học và y sinh học của trường. Đó chính là những điểm sáng cần được nhân lên trong hệ thống giáo dục nước nhà.
RA: Có rất nhiều độc giả khi đọc bài viết của ông trên báo mạng khuyên ông không nên trở về. Ông cảm thấy sao về những lời khuyên đó?
GS NVT: Như tôi đã trả lời trên, ở mỗi góc độ khác nhau suy xét một vấn đề, đương nhiên sẽ có nhiều ý kiến trái chiều nhau. Tuy nhiên tôi cảm ơn tất cả những lời khuyên và phản biện của độc giả, vì chính họ giúp tôi có quyết định đúng hơn và quyết tâm hơn.
RA: Tại sao thời điểm bây giờ Giáo sư mới quyết định trở về chứ không phải là sớm hay muộn hơn?
GS NVT: Chọn thời điểm để cho ra một quyết định là yếu tố rất quan trọng của mọi thành công. Nếu tôi về sớm hơn khoảng 5-10 năm trước có lẽ các bạn đồng nghiệp của tôi hiện nay trên thế giới sẽ không mở cửa cho tôi làm bạn với họ vì tôi chưa đủ tầm với họ. Nay cho dù tôi có về Việt Nam đi nữa thì tôi cũng vẫn sẽ là bạn của họ. Hơn nữa mình trở về khi đất nước đang xây dựng còn khó khăn thì vẫn có ý nghĩa hơn khi căn nhà đã xây hoàn chỉnh.
RA: Ở bên Hàn Quốc, người ta đối đãi với những trí thức thuộc tầng lớp của ông như thế nào? Có điều gì khác biệt với ở Việt Nam?
GS NVT: Hàn Quốc mặc dù đã phát triển, tuy nhiên ảnh hưởng của Khổng Tử vẫn còn rất lớn. Vì vậy vai trò của người Thầy trong xã hội rất được xem trọng. Con cái rất hãnh diện khi cha mẹ là Giáo Sư và rất nhiều người Hàn Quốc ví Giáo Sư của Trường Đại học là “Vua” (chắc hầu hết các nghiên cứu sinh Việt Nam tại Hàn quốc điều đồng tình với tôi điều này) mặc dù về tiền bạc thì không giàu bằng những doanh nhân.
Việt Nam không cần thiết phải học Hàn Quốc về điểm này vì theo tôi như vậy cũng không tốt và tạo ngăn cách quá lớn giữa quan hệ thầy trò. Tuy nhiên chúng ta cần phải duy trì văn hóa tôn sư trọng đạo của người Việt cho dù sau này kinh tế Việt Nam phát triển. Vì khi mất đi văn hóa thì chúng ta sẽ không bao giờ tìm lại được cho dù có nhiều tiền.
RA: Ông có thể chia sẻ một câu chuyện nào đó trong quá trình học tập và làm việc tại Nhật Bản trước đây?
GS NVT: Một kỷ niệm và cũng là bài học đáng nhớ lại đến từ con trai của tôi. Tại Nhật Bản học sinh tiểu học đều tự chấm điểm cho các bài tập về nhà của mình. Một lần con trai tôi làm bài xong, sau đó xem đáp án phía sau cuốn sách và tự cho mình 9 điểm vì sai một câu. Tôi thấy vậy liền thử hỏi sao con không chấm đúng 10 câu luôn, cô giáo đâu có biết. Tôi thật sự bất ngờ khi con trai tôi trả lời: con biết sai là con đã đúng rồi đâu cần phải sửa điểm trong bài làm gì nữa. Đó chính là sự thành công tuyệt vời của nền giáo dục Nhật Bản.
Sự trung thực và tự giác là chìa khóa thành công cho dân tộc Nhật Bản bất chấp sự thiếu vắng về tài nguyên và hiểm họa thiên nhiên rình rập. Đó cũng là bài học lớn nhất mà tôi đã học được trong suốt quá trình du học của mình mà lại từ một cậu bé học lớp ba.